Can thiệp điều trị thai ở ống dẫn trứng

30/05/2012 at 4:35 sáng Để lại bình luận

Phẫu thuật nội soi thường là can thiệp được chọn lựa để điều trị thai ở ống dẫn trứng. Hiện tại chích methotrexate tại chỗ dưới hướng dẫn của siêu âm không có vai trò trong điều trị thai ở ống dẫn trứng. Methotrexate sử dụng toàn thân có thể được chọn lựa cho những trường hợp thai ở ống dẫn trứng sớm, không biến chứng với nồng độ hCG thấp.

Bình luận của Thư viện SKSS do Pedro R. Figueroa-Casas

1. Tóm tắt bằng chứng

2. Khả năng ứng dụng tại cơ sở có nguồn lực hạn chế

2.1. Tầm quan trọng của vấn đề

2.2. Khả năng ứng dụng can thiệp

2.3. Khả năng ứng dụng những kết quả của tổng quan Cochrane

2.4. Khả năng tiến hành các can thiệp

2.5. Khả năng tiến hành nghiên cứu thêm

Tài liệu tham khảo

1. Tóm tắt bằng chứng 5

Tổng quan này kết luận rằng phẫu thuật nội soi là phương pháp được chọn lựa trong điều trị bảo tồn thai ngoài tử cung . Gần như không có lý do gì để sử dụng methotrexate (MTX) tại chỗ dưới hướng dẫn của nội soi ổ bụng. MTX đường toàn thân có thể ưu tiên sử dụng trong một số trường hợp thai ngoài tử cung giai đoạn sớm, không biến chứng và nồng độ HCG thấp. Mặc dù hầu hết bệnh nhân ưa thích được sử dụng MTX do đây là phương pháp không xâm lấn, nhưng cần lưu ý là chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe giảm hơn nhiều sau điều trị MTX so với với phẫu thuật nội soi ổ bụng. Tần suất có thai trong tử cung sau này, cũng như thai ngoài tử cung tái phát tương tự nhau giữa 2 phương pháp (1).

Phương pháp chờ đợi theo dõi (không can thiệp, chỉ theo dõi chờ thai ngoài tử cung tự thoái triển) thường ít thành công hơn sử dụng Prostaglandin.

Tất cả những nghiên cứu có nhóm chứng được xác định được thu nhận và phân tích hợp lý.

2. Khả năng ứng dụng tại cơ sở có nguồn lực hạn chế 5

2.1. Tầm quan trọng của vấn đề 5

Những tiến bộ của y học trong những năm gần đây đã làm thay đổi quan điểm về thai ngoài tử cung từ một vấn đề trầm trọng đe doạ tính mạng cần phải can thiệp toàn bộ bằng phẫu thuật thành một vấn đề sức khỏe ít nguy hiểm hơn, có thể điều trị bằng những phương pháp không xâm lấn hoặc ít xâm lấn có nguy cơ thấp nếu chẩn đoán kịp thời. Để những can thiệp mới này có thể áp dụng rộng rãi, cần tạo điều kiện để nhân viên y tế tiếp cận dễ dàng hai phương tiện chính giúp chẩn đoán sớm (định lượng nhanh hCG và siêu âm ngã âm đạo) cũng như những trang thiết bị gây mê và phẫu thuật nội soi. Tuy nhiên những phương tiện cần thiết này hiếm khi có sẵn ở các trung tâm y tế cộng đồng ở các nước đang phát triển. Vì vậy thai ngoài tử cung vẫn là một vấn đề đe dọa tính mạng và thường cần phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu, thường là cắt ống dẫn trứng. Tại Nam phi, 71% của các trường hợp thai ngoài tử cung kế tiếp nhau bị vỡ và 62% bị choáng khi nhập viện (2). Trên 90% số trường hợp thai ngoài tử cung ở Dakar, Senegal; trên 98%ở Accra, Ghana, và 52 % ở Yaounde, Cameroon, đã bị vỡ khi nhập viện (3, 4, 5). Ngay cả tại Hoa Kỳ, nơi có nguy cơ tử vong có liên quan thai kỳ chỉ là 9/100.000, thai ngoài tử cung cũng chiếm đến 13% trường hợp tử vong so sánh với 51% tử vong trong sinh sống và 4,7% tử vong có liên quan đến sẩy thai (6).

2.2. Khả năng ứng dụng can thiệp 5

Tính khả thi của những phương pháp can thiệp trong thai ngoài tử cung cần được xem xét ở nhiều khía cạnh : điều trị thành công, chi phí, phương tiện sẵn có và nhân viên y tế được huấn luyện. Phẫu thuật nội soi ổ bụng và MTX dùng đường toàn thân là 2 lựa chọn điều trị cho thai ngoài tử cung không biến chứng . MTX được ưu tiên cho những trường hợp chẩn đoán rất sớm vì đơn giản và chi phí thấp, còn phẫu thuật nội soi dành cho những trường hợp còn lại. Ở những trung tâm không đủ trang thiết bị hoặc phẫu thuật viên không được huấn luyện đầy đủ về phẫu thuật nội soi, mổ hở là chọn lựa duy nhất .

2.3. Khả năng ứng dụng những kết quả của tổng quan Cochrane 5

Tất cả các nghiên cứu (ngoại trừ 1 nghiên cứu) đều được tiến hành ở các nước phát triển. Không có một lý do sinh học nào để nghĩ rằng kết quả sẽ khác đi nếu nghiên cứu ở các nước đang phát triển . Tuy nhiên, chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung chưa vỡ thường ít phổ biến ở các nước đang phát triển.

2.4. Khả năng tiến hành các can thiệp 5

Việc thực hành các can thiệp này đòi hỏi phải có những trang thiết bị chẩn đoán và điều trị sẵn có như đã nêu ở trên cũng như huấn luyện nhân viên y tế đầy đủ . Ở những trung tâm không có đầy đủ các phương tiện xét nghiệm HCG đủ nhạy, siêu âm ngã âm đạo cũng như phẫu thuật nội soi, không thể áp dụng những kỹ thuật ít xâm lấn hơn. Tại những trung tâm này, nên sẵn sàng để can thiệp kịp thời cũng như trang bị cho truyền máu ngay tại chỗ.

2.5. Khả năng tiến hành nghiên cứu thêm 5

Ở các nước đang phát triển, nhiều chiến lược cần được xây dựng và giám sát để đảm bảo chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung và chuyển đến nơi có đầy đủ trang thiết bị phẫu thuật, với mục đích làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ. Những nghiên cứu chuyên sâu hơn cần xác định liệu việc sử dụng các xét nghiệm HCG nước tiểu nhạy, được sử dụng trong những năm gần đây với chi phí thấp, có cải thiện chẩn đoán phân biệt giữa thai ngoài tử cung và các bệnh lý viêm nhiễm vùng chậu hay không.

Các thử nghiệm lâm sàng nên tập trung vào một số vấn đề được tổng quan của Cochrane nêu lên:

* Tác dụng phụ .

* Hiệu quả của MTX chích bắp liều duy nhất so với MTX đường uống trong điều trị thai ngoài tử cung

* Hiệu quả của MTX tiêm bắp liều duy nhất so với phẫu thuật bảo tồn ống dẫn trứng qua nội soi trong điều trị thai ngoài tử cung .

* Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, thai ngoài tử cung tái phát, những thai kỳ bình thường trong tương lai.

* Hiệu quả và giá thành (bao gồm cả các can thiệp kế tiếp để giải quyết các trường hợp sót tế bào nuôi) trong phẫu thuật nội soi mở ống dẫn trứng với phẫu thuật cắt ống trứng.

Sources of support: Centro Rosarino de Estudios Perinatales, Rosario, Argentina.

Tài liệu tham khảo 5

1. Dias Pereira G, Hajenius PJ, Mol BWJ, Ankum WM, Hemrika DJ, Bossuyt PMM, Van der Veen F. Fertility outcome after systemic methotrexate and laparoscopic salpingostomy for tunal pregnancy. The Lancet 1999;353:724-725.

2. Amoko DH, Buga GA. Clinical presentation of ectopic pregnancy in Transkei, South Africa. East African medical journal 1995;72:770-773.

3. Moreau JC, Rupari L, Dionne P, Diouf A, Diouf F, Boye CS, Gaye-Woto G, Mendes V, Bah MD, Diadhiou F. Epidemiological and anatomo-clinical features of extra-uterine pregnancies at the Dakar University Hospital Center. Dakar Med 1995;40:175-179.

4. Baffoe S, Nkyekyer K. Ectopic pregnancy in Korle Bu Teaching Hospital, Ghana: a three-year review. Tropical doctor 1999;29:18-22.

5. Kouam L, Kamdom-Moyo J, Doh AS, Ngassa P. Treatment of ectopic pregnancies by laparotomy in under-equipped countries. A series of 144 cases at the Yaounde University Hospital Center (Cameroon) 1996;25:804-808.

6. Grimes DA. The morbidity and mortality of pregnancy: still risky business. American journal of obstetrics and gynecology 1994;170:1489-1494.

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Ung thư tinh hoàn – Nỗi “kinh hoàng” của nam giới Những điều cần biết khi khám hiếm muộn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Liên kết hữu ích


%d bloggers like this: