Lưu ý chỉ số đường huyết của thức ăn

28/03/2010 at 10:46 chiều Để lại phản hồi

Hỏi: Tôi 53 tuổi. Hiện đường huyết đo vào sáng sớm khoảng 100mg/dl, trong ngày nếu ăn đồ ngọt thì đường huyết sáng hôm sau đo khoảng 120mg/dl. Nếu tiếp tục ăn đồ ngọt vào những ngày tiếp theo thì đường huyết có khi lên đến 140 mg/dl.

Còn nếu kiêng đồ ngọt khoảng 3 hay 4 ngày thì đường huyết trở lại khoảng 100mg/dl. Tôi đi xét nghiệm trong nước tiểu không có đường. Xin hỏi tôi có bị bệnh đái tháo đường không?

Trả lời: Xét nghiệm HbA1c sẽ cho bạn thấy “bức tranh” toàn thể của quá trình kiểm soát đường huyết trung bình trong 2-3 tháng gần nhất. Kết quả trả về giúp bạn đánh giá được hiệu quả của phương pháp điều trị mà bạn đang theo.

Căn cứ trên tháp dinh dưỡng, người đái tháo đường cần chú ý đến những khía cạnh sau:

- Nhóm ngũ cốc khoai, cần chú ý tới chỉ số đường huyết (CSĐH) của các thức ăn để chọn. Vấn đề không nằm ở chỗ phải ăn giảm lượng đường mà là nên chọn những thức ăn nào làm cho sau bữa ăn đường huyết ít tăng, hay chỉ tăng một mức vừa phải.

- Cũng không thuần túy là chất đường nào mà là phản ứng tăng đường huyết của cơ thể đối với từng thức ăn và với mỗi bữa ăn. Sau bữa ăn – tức là sau khi bột – đường được tiêu hóa, hấp thu đưa vào máu thì đường huyết mới tăng. Bảng so sánh các CSĐH của những thức ăn thông dụng hàng ngày và đặc biệt là các thức ăn giàu bột, đường sẽ giúp bạn lựa chọnđể phần nào kiểm soát được hiện tượng tăng đường huyết sau bữa ăn.

- Những yếu tố ảnh hưởng đến CSĐH đáng lưu ý:

1. Chất xơ: Chất xơ có khả năng làm giảm CSĐH của một thực phẩm. Người ta phân biệt 2 loại chất xơ: loại tan trong nước thường ở dạng keo (pectin), thạch (carraghenan) hay gôm (gum) của rau, trái cây và các hạt họ đậu có tác dụng làm giảm CSĐH; loại dạng hạt của gạo lứt hay bột mì nguyên cám không có mấy tác dụng, bằng chứng là bánh mì trắng và bánh mì nguyên cám có CSĐH ngang nhau.

2. Phương pháp chế biến và đun nấu: Nước ở nhiệt độ cao (nhiệt độ ấm) làm nở và chín tinh bột, ăn vào “dễ tiêu” và dễ hấp thu. Bột sắn sống sẽ không làm tăng CSĐH như bột sắn quấy chín. Tinh bột khi nấu chín có đặc tính mau đặc (từ 5% tinh bột trở lên là đã bắt đầu sánh đặc). Cháo mau đặc, và các loại bánh ướt (bún, bánh phở, bánh đúc…) có khối lượng lớn, ăn mau no, nhưng hàm lượng bột thấp nên có CSĐH thấp.

3 Khả năng hấp thụ: không nên lẫn lộn với khả năng tiêu hóa – của từng thứ đường cũng ảnh hưởng đến CSĐH. Ví dụ, các đường – rượu như sorbitol, xylitol chỉ hấp thu  được khoảng 1/2 so với các chất bột – đường khác nên chúng chỉ đem lại 2 calo/g thay vì 4 calo/g do đó, các chất này còn được dùng để điều trị táo bón.

4. Nơi hấp thu và thời gian hấp thu: Nơi hấp thu của các thức ăn có CSĐH cao là tá tràng. Thời gian hấp thu thường tập trung vào 1/2 giờ đầu sau khi ăn vào.

Bảng so sánh CSĐH của một số thức ăn trong tháp dinh dưỡng

1. Ngũ cốc và sản phẩm từ ngũ cốc CSĐH
Lúa mạch sống 36
Mì sợi to nguyên cám nấu 15 phút 61
Mì ống nấu 5 phút 64
Cơm ăn liền nấu 1 phút 65
Mì sợi to trắng nấu 15 phút 67
Xôi nấu chín sau 15 phút nấu 68
Ngũ cốc điểm tâm kiểu Âu loại nguyên cám 74
Bánh quy bột yến mạch 78
Bắp nấu 80
Bánh quy loại ăn buổi xế với trà 80
Cơm gạo lứt 81
Cơm chín sau 10 – 25 phút nấu 81
Bánh quy bơ giòn 88
Cốm gạo nở 89
Cháo lúa mạch 96
Bỏng bắp (pop corn) 99
Bánh mì bột trắng tinh 100
Bánh mì bột nguyên hạt 100
Bánh quy lạt 100
103
Cốm bắp giòn điểm tâm 121
Cốm lúa mì nở 132
2. Khoai và sản phẩm từ khoai CSĐH
Khoai lang luộc 70
Khoai từ, khoai mỡ nấu chín 74
Khoai tây mỏng chiên giòn 77
Khoai tây non luộc chín 80
Khoai tây chín tán nhuyễn 98
Khoai tây bỏ lò 116
Bột khoai tây ăn liền 120
3. Trái cây CSĐH
Nước ép táo 45
Táo tây 52
Cam 59
Nước cam vắt 71
Chuối 84
Nho khô 93
4. Đậu hạt CSĐH
Đậu phộng 15
Đậu nành khô 20
Đậu nành đóng hộp 22
Đậu trắng đóng hộp 70
5. Các sản phẩm từ sữa CSĐH
Sữa nguyên kem 44
Sữa bột gầy 46
Yaourt 52
Kem trong bánh 59
Kem 69
6. Các loại đường CSĐH
Fructose (đường trái cây) 26
Đường kép Lactose (trong sữa) 57
Đường kép Sucrose (trong mía, củ cải) 83
Mật ong 126
Đường đơn Glucose 138
Đường mạch nha Maltose 152

Lưu ý: CSĐH của các thức ăn không tương ứng với vị ngọt, có nghĩa là không phải ăn vào thấy ngọt là sẽ làm tăng đường huyết: ví dụ bánh qui lạt có CSĐH cao hơn bánh qui bơ ngọt bình thường. Độ ngọt (hay sức ngọt) cũng là một yếu tố rất cần được chú ý vì nhiều người cứ nghĩ rằng đường có tính ngọt và ăn cái gì càng ngọt thì càng có nhiều chất đường, thực tế khác hẳn định kiến sai lầm đó.

About these ads

Entry filed under: Thông Tin Sức Khỏe. Tags: , , .

6 thực phẩm cho cuộc sống hiện đại Sốt xuất huyết chuyển ra miền Trung, miền Bắc

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Bài viết mới

Liên kết hữu ích


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: